Treo chân mày bằng chỉkhông phẫu thuật


Bệnh viện thẩm mỹ JW hàn quốc


Bệnh viện thẩm mỹ uy tín nhất tphcm


Cắt mí mắt hàn quốc đẹp


Phẫu thuật hàm móm có nguy hiểm không


Phẫu thuật hàm móm giá bao nhiêu tiền


Phẫu thuật chỉnh hàm móm


Phẫu thuật hàm hô móm


Phẫu thuật vẩu hàm trên


Điều trị khớp cắn ngược


Giá trị to lớn và ý nghĩa sâu sắc của Bản Di chúc thiêng liêng, bất hủ.

29/10/2019 02:02 PM

           Tháng 9 mùa thu, mùa thu Hà Nội gắn với ngày độc lập, với niềm vui ngày Quốc khánh. Ngày mùng 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình tuyên bố khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và khẳng định trước thế giới “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do và độc lập” rồi cũng ngày mùng 2 tháng 9 năm 1969, sau 24 năm kể từ ngày Người đọc bản tuyên ngôn khai sinh ra nước Việt Nam độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu đã vĩnh biệt chúng ta. Lịch sử cũng đã trùng hợp một cách kỳ lạ như thế!

          Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều thời gian và tâm huyết để hoàn thành bản Di chúc. Đó là một bản Di chúc lịch sử, gửi gắm trong đó những lời căn dặn thiết tha, những khát khao cháy bỏng mà Người đã để lại cho Đảng ta, dân tộc ta, non sông đất nước ta mà theo lời của đồng chí Vũ Kỳ, thư ký riêng của Người thì đó là “những giây phút thiêng liêng mà trái tim và khối óc Bác Hồ đang để lại trên trang giấy lời căn dặn quý báu, thiết tha, chân tình cho con cháu mai sau”. Mặc dù Chủ tịch Hồ Chí Minh viết rằng Người “để lại mấy lời”“chỉ nói tóm tắt vài việc thôi” nhưng Di chúc của Người là một văn kiện lịch sử có giá trị vô cùng to lớn đối với cách mạng và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của Nhân dân ta. Di chúc của Người đã thắp sáng lên ngọn lửa của độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc và truyền ngọn lửa của khát vọng ấy đến thế hệ sau, để rồi thế hệ sau lại truyền ngọn lửa đó đi suốt chặng đường dài của tương lai của đất nước.

           Những dòng đầu tiên của bản Di chúc lịch sử được Người viết vào ngày 10 tháng 5 năm 1965. Công việc trọng đại và thiêng liêng này được Người khởi đầu vào lúc đồng bào và chiến sĩ cả nước đang sôi nổi thi đua lập thành tích chúc thọ Người 75 tuổi, cũng là lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta rơi vào giai đoạn ác liệt nhất.

            Người đã chọn một ngày đẹp nhất trong dịp kỷ niệm ngày sinh vào lúc sức khỏe đang tốt nhất trong những năm cuối đời để viết về Tổ quốc, về Nhân dân của mình, viết về sứ mệnh lớn lao của những người cộng sản Việt Nam đối với vận mệnh và tương lai của đất nước trước cái ngày Người sẽ ra đi mãi mãi.

           Mở đầu Người ghi “Nhân dịp mừng 75 tuổi”, Người ghi thêm hàng chữ “Tuyệt đối bí mật”, Người không muốn cho nhiều người biết việc làm của một người sắp đi xa, Người không muốn chuyện sống chết - một quy luật muôn đời của tạo hóa đối với mọi con người ảnh hưởng đến Tổ quốc, đến Nhân dân. Ngày mùng 10 tháng 5 năm 1965, Người viết: “Năm nay tôi đã 75 tuổi, tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn mạnh khỏe, tuy vậy tôi cũng thuộc lớp người xưa nay hiếm, ai đoán biết tôi sẽ sống và phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng được mấy năm mấy tháng nữa”. Vậy nên Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã tranh thủ lúc tinh thần sáng suốt nhất, thân thể mạnh khỏe nhất để bắt đầu viết Di chúc cho chính mình, hay nói đúng hơn là cho cả dân tộc Việt Nam với những lời căn dặn có giá trị lý luận và thực tiễn thiết thực, sâu sắc biết chừng nào đối với sự nghiệp cách mạng của đất nước.

          Trong Di chúc, Người viết về Đảng, về đoàn kết, về đạo đức cách mạng, bởi Người hiểu rõ rằng, sức mạnh của Đảng là sự đoàn kết và hy sinh cho quyền lợi của Nhân dân. Lời dạy trong Di chúc thiêng liêng của Người còn nóng hổi tính thời sự biết bao, bởi đoàn kết là phẩm chất, là đạo đức cách mạng, là truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và Nhân dân ta, có đoàn kết thì làm gì nhất định cũng thành công.

           Thêm vào đó, Người viết”Đảng ta là một đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của Nhân dân”. Để đáp ứng được nhiệm vụ lãnh đạo xã hội, Đảng phải luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và gắn bó máu thịt với Nhân dân, không ngừng nâng cao bản chất giai cấp công nhân, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của mình, phải giữ gìn mối đoàn kết trong Đảng, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và phê bình, rèn luyện đạo đức cách mạng, nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng phục vụ Nhân dân của mỗi cán bộ, đảng viên. Cũng trong một đoạn Di chúc ngắn, Người viết bốn chữ “thật”, theo Người, để Đảng ta làm trọn được vai trò của người lãnh đạo, cầm quyền, nhất định cán bộ đảng viên của Đảng phải nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.

            Tháng 5 năm 1966, Bác Hồ bước sang tuổi 76, từ ngày 10 tháng 5, Người vẫn dành đúng một tiếng để tiếp tục suy nghĩ về những điều dặn lại cho mai sau. Chính trong những ngày này, Người viết thêm một câu đặc biệt quan trọng ở phần đoàn kết của đảng, “phải có tình đồng chí yêu thương lẫn nhau”, chỉ một câu thôi, nhưng suy cho cùng nó là vấn đề cơ bản của đoàn kết, bởi vì nếu không xuất phát từ tình đồng chí thương yêu lẫn nhau thì dù có tự phê bình, phê bình đến mấy, dù được gọi là có tinh thần đấu tranh thẳng thắn đến mấy, hiệu quả cũng chẳng được là bao.

          Là người nhìn xa, thấy rộng, không chỉ quan tâm về củng cố và xây dựng Đảng cầm quyền mà Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đặc biệt quan tâm và gửi gắm nhiều niềm tin ở thế hệ trẻ. Người ví tuổi thanh niên là mùa xuân của xã hội “Một năm khởi đầu từ mùa xuân.Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội” và “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Tư tưởng ấy chính là tinh thần xuyên suốt trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác thanh niên của Đảng. Đó là công việc bồi dưỡng lý tưởng cộng sản, giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức rèn luyện đạo đức cách mạng, đào tạo nguồn nhân lực vừa “hồng” vừa “chuyên” để kế tục sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa.

           Tiếp theo, Người đã vạch ra những việc cấp bách phải làm sau ngày chiến thắng. Ngay sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi, công việc toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta phải ra sức làm là mau chóng hàn gắn vết thương do chiến tranh để lại. “Đó là một công việc cực kỳ to lớn, phức tạp và khó khăn, chúng ta phải có kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo để tránh khỏi bị động, thiếu sót, và sai lầm”. Người căn dặn tiếp về kế hoạch xây dựng lại thành phố, làng mạc sau chiến tranh, về khôi phục và phát triển kinh tế, về sửa đổi chế độ giáo dục cho phù hợp với hoàn cảnh mới, về y tế, vệ sinh, về chuẩn bị mọi vấn đề thống nhất Tổ quốc.

           Bản thân Người luôn luôn tâm niệm”việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì có hại đến dân, ta phải hết sức tránh”, quan điểm của dân, do dân, vì dân đã làm nên sự vĩ đại của Người và làm nên sự kính trọng tuyệt đối của Nhân dân đối với Người. Vì thế, để phát triển kinh tế và văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở phải biết phát huy tốt hệ thống các động lực của chủ nghĩa xã hội, trong đó bao trùm lên tất cả là động lực con người. Người không chỉ quan tâm đến đời sống của Nhân dân đã từng chịu nhiều đau khổ mà lớn hơn còn chăm lo giáo dục đào tạo họ trở thành những chủ nhân kiêu hãnh của đất nước và lao động sáng tạo để làm nên một đất nước phồn vinh, văn minh, công bằng và hạnh phúc.

           Năm 1969 là một năm có nhiều dấu ấn sâu đậm về Bác. Đó là năm Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã sang tuổi 79, sức khỏe của Bác sút kém nhiều, đã xuất hiện những triệu chứng đáng lo ngại về bệnh tim. Nhưng mùa xuân năm đó, Người vẫn làm thơ chúc tết mọi nhà: “Năm qua thắng lợi vẻ vang. Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to. Vì độc lập, vì tự do. Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào. Tiến lên chiến sĩ, đồng bào. Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn”. Trước khi đi xa, Người đã để lại cho chúng ta phương châm chiến lược “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, vạch cho chúng ta phương hướng thắng địch từng bước, đánh đổ địch từng bộ phận, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

          Ngày 10 tháng 5 năm 1969, Người viết thêm phần mở đầu hoàn toàn mới: “Cuộc chống Mỹ cứu nước của Nhân dânta dù phải kinh qua gian khổ hy sinh nhiều hơn nữa song nhất định thắng lợi hoàn toàn, đó là một điều chắc chắn”.Đoạn bổ sung và viết mới này rất quan trọng, nó phản ánh thực tế thắng lợi của Nhân dân ta và niềm lạc quan tin tưởng của Người vào thắng lợi cuối cùng của dân tộc. Và vì miền Nam luôn ở trong trái tim của Bác bởi”Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà. Miền Nam mong Bác nỗi mong cha”, vậy nên cho tới những năm tháng cuối đời, tuổi cao sức yếu, Người đã viết thư gửi đồng chí Lê Duẩn đề nghị chuẩn bị cho Người một chuyến đi vào Nam. Hằng ngày Người bí mật tự mình tập luyện để nâng cao sức khỏe, vì “Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng; thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh thiếu niên nhi đồng yêu quý của chúng ta”, nhưng mong ước giản đơn đó của Người mãi mãi không trở thành hiện thực. Quy luật muôn đời của tạo hóa đã không thể cho Người một cơ hội cuối cùng.

            Di chúc phản ánh đức khiêm tốn phi thường của một nhân cách vĩ đại, mặc dù là lãnh tụ cao nhất của một đảng và nhà nước, Người vẫn chỉ coi mình là một người phục vụ. Trong Di chúc, hơn 10 lần Người dùng từ “phục vụ”, bởi Người luôn luôn đứng ở vị trí của một người đầy tớ thực sự của Nhân dân mình, cuộc đời của Người đã minh chứng trái tim vĩ đại và sự hy sinh vô tận của Người cho Tổ quốc, cho Nhân dân và cho nhân loại. “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ Nhân dân, nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Người cẩn thận căn dặn “Sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức phúng điếu linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của Nhân dân”.Người còn dành thời gian để nói về phong trào cộng sản thế giới. Người mong muốn các đảng anh em đoàn kết, giúp đỡ, bảo vệ lẫn nhau để nâng cao tinh thần chủ nghĩa quốc tế vô sản chân chính. Quả thật, Di chúc của Người như là lời tâm sự của một con người đã suốt đời hy sinh hạnh phúc riêng tư, hiến dâng trọn cuộc đời cho Tổ quốc và Nhân dân, là tấm lòng chung thủy với “các nước anh em”“bầu bạn khắp năm châu”.

           Bản Di chúc thiêng liêng được hoàn tất vào ngày 19 tháng 5 năm 1969. Di chúc Bác Hồ chính là tình yêu lớn lao đối với Tổ quốc của một người con vĩ đại, là mệnh lệnh tối thượng của một người cầm lái, là niềm tin bất diệt vào tương lai của dân tộc Việt Nam và ngập tràn chủ nghĩa nhân văn cao cả của một con người.

          Mùa thu năm 1969 đã đến, có ai ngờ lại là mùa thu cuối cùng của cuộc đời Bác, Quốc khánh năm ấy đã không có mít tinh trên quảng trường Ba Đình như thường lệ. Trong những dòng người đổ về Ba Đình năm ấy, từ các đồng chí lãnh đạo Đảng và nhà nước cho đến các tầng lớp Nhân dân, các bậc phụ lão và các cháu thiếu niên nhi đồng, không ai dám tin là vị lãnh tụ kính yêu nhất của đất nước, dân tộc, thân thương nhất của đồng bào, chiến sĩ đã ra đi mãi mãi. Khi nỗi đau Tổ quốc bị chia cắt, Nam Bắc chưa sum họp một nhà vẫn còn dai dẳng, thì giây phút Người từ biệt cuộc đời để đi vào thế giới người hiền đã khiến hàng triệu triệu trái tim con người Việt Nam đau thêm một lần nữa, một nỗi đau xé lòng. Khép lại một cuộc đời với trọn 79 mùa xuân hiến dâng cho cách mạng, cho Tổ quốc, nhưng Người lại mở ra những mùa xuân dài bất tận cho đất nước, cho con người Việt Nam.

           Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là văn kiện có giá trị vô cùng to lớn đối với quá trình cách mạng và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc ta trên nhiều phương diện, nó vạch ra phương hướng cho cách mạng Việt Nam cả hôm nay và trong tương lai, đặc biệt là quan hệ với các Đảng Cộng sản anh em, các nước xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, Di chúc vừa là văn kiện của một nhà chính trị lớn, lãnh tụ cao nhất của Đảng và dân tộc, Người đã sáng tạo ra thời đại mới, “thời đại Hồ Chí Minh”, thời đại của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của dân tộc Việt Nam; vừa là tác phẩm nghệ thuật tầm cỡ của một nhà văn hóa lớn. Đây là sự phản ánh thống nhất, cô đọng nhất về toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh; thể hiện phẩm chất đạo đức sáng ngời suốt đời phục vụ cách mạng, phục vụ Tổ quốc và Nhân dân của người chiến sĩ cộng sản kiệt xuất; thể hiện mong muốn cuối cùng của Người. Ngoài ra, Di chúc còn thể hiện cô đọng và sâu sắc những tư tưởng đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam. Người đã căn dặn toàn Đảng, toàn dân ta những việc to lớn, hệ trọng, cần làm sau khi đất nước thống nhất.

            Vậy nên bản Di chúc được ví như một ngọn hải đăng soi sáng cho con tàu Tổ quốc Việt Nam vượt qua mọi thác ghềnh đến bến bờ của độc lập, tự do, ấm no và hạnh phúc. Dẫu có lúc chông chênh, sóng gió, dẫu có lúc nguy hiểm, gian nan thì ánh sáng chân lý và niềm tin chiến thắng trong Di chúc sẽ tiếp tục chỉ đường dẫn lối cho cách mạng Việt Nam hoàn thành vẻ vang sự nghiệp của mình. Vinh quang đó, chiến công đó lại một lần nữa khẳng định tầm nhìn xuyên thế kỷ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, một con người của thời đại, biểu tượng đẹp đẽ nhất về ý chí và phẩm giá dân tộc - đã để lại cho sự nghiệp cách mạngViệt Nam muôn đời bền vững.

Ban Tuyên giáo Quận ủy Quận 9

 

TRUNG TÂM VĂN HÓA QUẬN 9
Địa chỉ: 183A Đỗ Xuân Hợp, phường Phước Long B, Quận 9, TP.HCM
Điện thoại: (08) 37314871 – (08) 37314072. Email: info@trungtamvanhoaquan9.info.vn
Facebook: Trung tâm văn hóa Quận 9 - Thư viện Quận 9
Tin bài cộng tác, vui lòng gửi vào địa chỉ bantinquan9@gmail.com
© Đề nghị ghi rõ nguồn “TTVH quận 9” khi phát hành lại thông tin từ website này